Tìm kiếm
Những nội dung cơ bản của Luật Trẻ em năm 2016
False 464Ngày cập nhật 15/10/2018

    Luật Trẻ em được kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 5/4/2016 và có hiệu lực từ 01/6/2017. Luật trẻ em năm 2016 đã kế thừa những quy định cơ bản của Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, đồng thời sửa đổi, bổ sung rất nhiều quy định mới nhằm cụ thể hóa Công ước Quyền trẻ em, Hiến pháp 2013 và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội và phát triển của trẻ em trong giai đoạn hiện nay.

 Luật trẻ em gồm 07 chương với 106 điều, bao gồm: Chương I- Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 11); Chương II- Quyền và bổn phận của trẻ em (từ Điều 12 đến Điều 41), Chương III- Chăm sóc và giáo dục trẻ em (từ Điều 42 đến Điều 46); Chương IV- Bảo vệ trẻ em (từ Điều 47 đến Điều 73); Chương V- Trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em (từ Điều 74 đến Điều 78); Chương VI- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em (từ Điều 79 đến Điều 102); Chương VII Điều khoản thi hành (từ Điều 103 đến Điều 106).

Luật trẻ em năm 2016 có những nội dung và điểm mới cơ bản như sau: 

1.  Về tên gọi:Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được đổi thành Luật  Trẻ em; tên gọi mang tính chất khái quát, có phạm vi rộng,  cho phép chứa đựng  được đầy đủ hơn các nội dung hoạt động liên quan quyền trẻ em.

2.  Chương I- Những quy định chung

Về khái niệm trẻ em: Luật quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi”, quy định này có nghĩa mở rộng đối tượng áp dụng của Luật không chỉ trẻ em là công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài không phải công dân Việt Nam nhưng đang cư trú tại Việt Nam.

- Về Giải thích từ ngữ: Luật đưa ra 11 khái niệm liên quan đến các quy định trong Luật, đặc biệt là các khái niệm mới về bảo vệ trẻ em như: Chăm sóc thay thế; Người chăm sóc trẻ em; xâm hại trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em, bạo lực trẻ em; bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em; giám sát việc thực hiện quyền trẻ em. 

- Về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Luật quy định 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có bổ sung các nhóm mới như: trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; trẻ em bị bóc lột; trẻ em bị mua bán; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc.

- Về nguyên tắc thực hiện quyền trẻ em: Luật quy định “Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến trẻ em, phải xem xét ý kiến của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương”,

- Về những hành vi bị nghiêm cấm: Luật quy định cụ thể và bổ sung về các hành vi bị nghiêm cấm như tước đoạt quyền sống của trẻ em; cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình; công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em; không thực hiện trách nhiệm hỗ trợ trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm,…

- Về nguồn lực:Luật quy định rõ việc ưu tiên nguồn lực để thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em, bao gồm cả nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Tháng hành động vì trẻ em vào tháng 6 hằng năm và Quỹ Bảo trợ Trẻ em cũng được quy định trong Luật để thúc đẩy phong trào toàn dân chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em và vận động nguồn lực cho trẻ em.

3.  Chương II- Quyền và bổn phận của trẻ em (điều 12 đến điều 46). Luật quy định 25 nhóm quyền của trẻ em như quyền sống; quyền bí mật đời sống riêng tư; quyền được sống chung với cha, mẹ; quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi; quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột sức lao động, không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, không bị mua, bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạn; quyền được đảm bảo an sinh xã hội; quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội; quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn… Các bổn phận của trẻ em đối với gia đình, nhà trường, cộng đồng, đất nước và chính bản thân các em được quy định cụ thể trong Luật phù hợp với chế định về nghĩa vụ công dân của Hiến pháp năm 2013, Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng và phù hợp với yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng con người Việt Nam trong bối cảnh mới.

4.  Chương III- Chăm sóc và giáo dục trẻ em: Luật quy định tổng quát về chính sách của nhà nước để bảo đảm về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; chăm sóc sức khỏe; giáo dục; bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch và thông tin, truyền thông cho trẻ em. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng, thực hiện các chính sách về quyền trẻ em trong thực tế.

5.  Chương IV- Bảo vệ trẻ em (Điều 42 đến Điều 46)Nội dung các điều quy định về bảo vệ trẻ em trong Luật trẻ em hầu như hoàn toàn mới so với Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Luật trẻ em quy định cụ thể các nội dung về ba cấp độ bảo vệ trẻ em (phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp) và trách nhiệm thực hiện; cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; chăm sóc thay thế; các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Các biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp được quy định cụ thể, cùng với trách nhiệm thực hiện của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc bảo vệ trẻ em. Luật quy định các loại hình cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ở cả ba cấp độ, không chỉ dừng lại ở việc can thiệp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tại điều 53 quy định cụ thể trách nhiệm của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã. Quy định về chăm sóc thay thế nhằm đảm bảo trẻ em được sống trong môi trường gia đình và được chăm sóc thay thế khi bị mất môi trường gia đình hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ để vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em. Tại mục 4 Chương IV quy định các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Nội dung này được xây dựng trên cơ sở hệ thống hóa các nguyên tắc áp dụng đối với người chưa thành niên trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành, đồng thời bổ sung các nguyên tắc được quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các điều ước quốc tế về tư pháp đối với trẻ em mà Việt Nam là thành viên.

6.  Chương V- Trẻ em tham gia váo các vấn đề về trẻ em (từ điều 74 đến điều 78).Nội dung này hoàn toàn mới so với các Luật trước đây. Các quy định nhằm để thể chế hóa quy định tại khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013“trẻ em được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”. Chương này quy định nội dung, phạm vi, hình thức trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em và biện pháp bảo đảm trong gia đình, nhà trường, cơ sở giáo dục khác và trong cộng đồng. Điều mới đặc biệt của Luật Trẻ em 2016 là Điều 77 quy định về tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em và giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em là Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

7.  Chương VI- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em (từ điều 79 đến điều 102).Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em, bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và đặc biệt quy định trách nhiệm của gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục. Công tác trẻ em liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương, do đó Luật quy định về tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, điều hòa các hoạt động nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực hiện quyền trẻ em giữa các cơ quan ở Trung ương, các tổ chức, các địa phương. Điểm mới nổi bật của chương VI là mục 2: Quy định về trách nhiệm của gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục đối với thực hiện quyền trẻ em.Đặc biệt, điều 102 quy định về trách nhiệm của cha, mẹ đối với việc quản lý trẻ em và giáo dục để trẻ em thực hiện được quyền và bổn phận của mình.

    Trên đây là những nội dung và điểm mới đáng chú ý của Luật trẻ em năm 2016. Để thực hiện tốt các quyền của trẻ em mà Luật quy định đề nghị các cấp, các ngành, toàn xã hội và gia đình hãy chung tay bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em để trẻ em được phát triển toàn diện./.

Phòng Tư pháp
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Tổng truy cập 1.709.064
Truy cập hiện tại 228