Tìm kiếm
Những điểm mới quan trọng của Luật Lâm nghiệp 2017
False 4787Ngày cập nhật 09/07/2018
Quốc hội Thông qua dự án Luật Lâm nghiệp

Luật Lâm nghiệp (Luật số 16/2017/QH14) được Quốc hội khóa 14, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 15/11/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019. Luật gồm 12 chương, 108 điều quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản. Luật Lâm nghiệp đã thể chế hóa được các chủ trương lớn của Đảng: Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường và Chỉ thị 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Dưới đây là những điểm mới quan trọng của Luật này:

1. Mở rộng phạm vi điều chỉnh; coi LN là một ngành kinh tế - xã hội.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ quy định đến hình thành rừng, tức là từ quản lý đến bảo vệ, phát triển rừng. Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã mở rộng đến các lĩnh vực chế biến và thương mại, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế. Như vậy, Luật đã khẳng định lâm nghiệp là ngành kinh tế - xã hội có liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; khẳng định ngành Lâm nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, vừa phát huy giá trị xã hội là thích ứng với biến đổi khí hậu với đòi hỏi phải quản lý bền vững.
Với những quy định của Luật Lâm nghiệp 2017, chúng ta có thể hiểu rằng: Lâm nghiệp là một ngành kinh tế - xã hội đặc thù, gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ liên quan đến rừng. 
2. Thay thế Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 4 cấp bằng quy hoạch lâm nghiệp quốc gia
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được lập ở 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và xã. Luật Lâm nghiệp 2017 đã có thay đổi rất cơ bản là thay thế quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 4 cấp bằng quy hoạch Lâm nghiệp quốc gia để phù hợp với Luật Quy hoạch.
Khoản 2 – Điều 11 của Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định các nội dung quy hoạch lâm nghiệp, trong đó có các nội dung về định hướng phát triển 3 loại rừng, kết cấu hạ tầng lâm nghiệp và phát triển thị trường, vùng nguyên lệu, chế biến lâm sản. Do đặc thù của ngành nên trong Luật Lâm nghiệp đã có các quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung quy hoạch; trách nhiệm lập, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp quốc gia. Mặc dù những nội dung này cũng đã dược quy định chung trong Luật Quy hoạch 2017.
3. Thay đổi về chế định sở hữu rừng.
Nếu như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chỉ xác định quyền của Nhà nước đối với rừng. Chủ rừng chỉ có quyền sử dụng, sở hữu rừng khi được Nhà nước trao và công nhận thì Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định hai nhóm hình thức sở hữu rừng là: Rừng sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và rừng sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Theo đó, rừng trồng sản xuất được đầu tư từ các tổ chức, cá nhân, ai là người đầu tư thì sẽ là chủ sở hữu của rừng. 
Việc quy định rõ các hình thức sở hữu rừng nhằm thừa nhận thành quả lao động, kết quả đầu tư của người làm nghề rừng; tạo động lực khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào rừng nghèo và hưởng lợi từ rừng; bảo đảm quản lý rừng tốt hơn, hiệu quả hơn. Từ quan điểm về quyền sở hữu như vậy, một loạt chế định khác từ quản lý cho tới chế độ chính sách đối với các chủ rừng sẽ phải thay đổi. 
4. Khẳng định việc giao đất giao rừng cho người dân.
Về chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, nếu như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 mời chỉ dừng ở mức “Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc” (Khoản 4 – Điều 10) thì đến Luật Lâm nghiệp 2017 đã khẳng định “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất” (Khoản 6 – Điều 4).
Quy định trên của Luật Lâm nghiệp cũng thể hiện sự đột phá so với quy định tại Khoản 2 - Điều 27 Luật Đất đai 2013 là: “Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp”. “Tạo điều kiện” nghĩa là có điều kiện thì giao, không có điều kiện thì không giao, không mang tính bắt buộc.
5. Quy định chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên.
Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (Điều 27), việc chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác được thực hiện khi “được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”. Luật Đất đai 2013 (Điều 58) cũng cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với đất rừng phòng hộ, đặc dụng khi có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ (với diện tích từ 20 ha trở lên) và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh (với diện tích dưới 20 ha), không đề cập đến việc chuyển mục đích sử dụng đất đối với đất rừng sản xuất. 
Luật Lâm nghiệp 2017 (Khoản 2 – Điều 14) khẳng định: “Không chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trừ dự án quan trọng quốc gia; dự án phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia; dự án cấp thiết khác được Chính phủ phê duyệt”. Quy định chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên nhằm mục đích phát huy giá trị của từng loại rừng, đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu.
6. Quy định về dịch vụ môi trường rừng.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa đề cập đến dịch vụ môi trường rừng. Luật Lâm nghiệp 2017 đã luật hóa Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua việc quy định cụ thể các loại dịch vụ, nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng; đối tượng, hìn thức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng; quyền, nghĩa vụ của bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Quy định về dịch vụ môi trường rừng là điểm rất mới của Luật Lâm nghiệp 2017, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho việc chuyển hướng từ khai thác lợi ích trước mắt sang khai thác lợi ích tiềm năng của rừng; từ sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ sang sản phẩm phi gỗ, tạo nguồn tài chính bền vững để đầu tư trực tiếp vào rừng, tăng thu nhập cho người làm nghề rừng.
7. Quy định về chế biến và thương mại lâm sản.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 chưa đề cập đến chế biến và thương mại lâm sản. Luật Lâm nghiệp 2017 đã quy định rõ chính sách phát triển lâm sản theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác, liên doanh, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu, quản lý rừng bền vững, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới và các giải pháp tăng trưởng xanh, nâng cao giá trị gia tăng, ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong chế biến lâm sản. 
Luật cũng quy định việc chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật các loài thực vật rừng hoang dã, động vật rừng hoang dã nguy cấp thuộc các phụ lục của Công ước CITES. Quy định việc xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam; ban hành tiêu chí, quy trình, thủ tục, thẩm quyền phân loại doanh nghiệp khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Quy định về chính sách phát triển thị trường lâm sản.
Ngoài những điểm nêu trên, Luật Lâm nghiệp 2017 còn có một số điểm mới khác như: Định nghĩa về rừng được xác định theo 3 tiêu chí: diện tích; chiều cao cây; độ tàn che để phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đáp ứng yêu cầu chung của quốc tế. Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng bền vững. Hoạt động khoa học và công nghệ về lâm nghiệp…
Luật Lâm nghiệp mới ban hành xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn trong công cuộc bảo vệ phát triển rừng, đồng thời đảm bảo việc phát triển kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Với các quy định của Luật sẽ góp phần quản lý các hoạt động về lâm nghiệp hiệu quả hơn, phát huy những lợi thế về rừng theo hướng là ngành kinh tế - kỹ thuật. Đồng thời khắc phục những vấn đề tồn tại trước đây để chính sách thực sự đi vào cuộc sống./.

 
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Tổng truy cập 1.741.563
Truy cập hiện tại 50